CÔNG TY TNHH DINH DƯỠNG LỬA VIỆT

Mang nguồn dinh dưỡng vàng cho cuộc sống

Hotline: 0988 238883

TIẾNG VIỆT | ENGLISH
Bệnh Gan Tụy ở tôm thẻ chân trắng - Phòng bệnh gan tuỵ với thảo dược LV Boganic

Bệnh Gan Tụy ở tôm thẻ chân trắng - Phòng bệnh gan tuỵ với thảo dược LV Boganic

benh-gan-tuy-o-tom-the-chan-trang---phong-benh-gan-tuy-voi-thao-duoc-lv-boganic

- Khái niệm bệnh Gan tuỵ ở tôm thẻ trắng là gì?

- Nguyên nhân gây bệnh Gan tuỵ từ đâu?

- Biểu hiện của bệnh - triệu trứng phát hiện?

- Phòng ngừa và điều trị bệnh ra sao?

Khái niệm

Bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) hay còn gọi là Hội chứng tôm chết sớm (EMS) có liên quan đến quản lý môi trường ao nuôi tôm.

Nguyên nhân

Các yếu tố có tác động xấu đến môi trường và tạo điều kiện cho bệnh bùng phát như dinh dưỡng và quản lý thức ăn, an toàn sinh học, sức khỏe tôm và đặc biệt là quản lý quần thể vi sinh vật trong ao nuôi dẫn đến sự bùng phát của nhóm vi khuẩn cơ hội Vibrio, trong đó có tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus.

Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là loài vi khuẩn vô cùng phổ biến trong môi trường và chỉ có một dòng đặc biệt của loài vi khuẩn này gây được bệnh. Do đó, các phương pháp xét nghiệm thông thường sẽ không thể xác định được sự tồn tại của dòng vi khuẩn gây bệnh này. Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus bị tấn công bởi một loại virus gọi là Phage (hay còn gọi là thực thể khuẩn) làm vi khuẩn tạo ra môi trường độc tố cực mạnh. Độc tố này phá hủy các mô tế bào, gây rối loại chức năng cơ quan tiêu hóa và gan tụy của tôm. Vi khuẩn Vibro parahaemolyticus xâm nhập cơ thể tôm qua đường tiêu hóa, tồn tại và phát triển mạnh trong đường ruột tôm.

Tôm bệnh chết trong giai đoạn sớm từ 07 – 35 ngày thả nuôi, tuy nhiên tôm cũng bị bệnh này vào các giai đoạn 35 – 60 ngày tuổi. Bệnh thường diễn ra vào mùa mưa nhiều hơn mùa nắng.

 

Bệnh gan tuỵ ở tôm thẻ trắng

 

bệnh gan tuỵ tôm thẻ trắng

 

 


Bệnh xảy ra nặng hơn nếu môi trường ao nuôi xấu bao gồm nền đáy ao cũ ở vùng có phèn, ôxy hòa tan thấp, sử dụng thuốc trừ sâu diệt giáp xác (dư lượng độc tố cypermethrine và deltamethrine ảnh hưởng xấu đến chức năng gan tụy), ao không gây được tảo hay màu nước không ổn định, thời tiết biến động mạnh, ao phát sáng hay áp lực dịch bệnh cao (các ao xung quanh xuất hiện tôm chết).

Trường hợp tôm chết rất sớm (6-10 ngày thả nuôi) thường xảy ra khi gan tụy tôm giống đã nhiễm Vibrio parahaemolyticus trước đó (trong trại giống). Như vậy, ngoài các chỉ tiêu thông thường, cần phải kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn gan tụy của con giống.

Hội chứng này cũng thường bùng phát ở những vùng ao nuôi thâm canh có sự tích lũy phospho cao (chẳng hạn như ao nuôi tôm chân trắng cho ăn nhiều thức ăn, ao nuôi cho ăn dư thừa …). Cần nhớ rằng, hàm lượng phospho trong thức ăn không được tôm hấp thu hoàn toàn, 80% lượng phospho có trong thức ăn sẽ bị thải ra môi trường ngoài nếu không được chuyển sang dạng dễ hấp thu trong đường ruột tôm, trong khi đó tôm chân trắng lại cần phải cho ăn một lượng rất lớn hàng ngày vì được nuôi thâm canh mật độ cao.

Biểu hiện – triệu chứng

  • Thường xảy ra trong tháng nuôi đầu, tôm còn nhỏ nên khó phát hiện.
  • Tôm bệnh bơi lờ đờ, tấp mé bờ, nhiều trường hợp tôm rớt đáy rất nhanh.
  • Gan tụy sưng, nhũn, nhạt màu, hoặc gan teo (gan chai), sậm màu. Gan tụy không còn các giọt dầu và bị phá hủy do nhiễm khuẩn.
  • Vỏ mềm, ruột ít hoặc không có thức ăn, nếu tôm thẻ thường kèm đục cơ.

Bệnh gan tuỵ tôm thẻ trắng

 

Cách trị

Việc điều trị sau khi bệnh đã xảy ra là rất khó, do tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu; sau khi mắc bệnh tôm thường bỏ ăn nên không đưa thuốc vào được; và thường khi mắc bệnh, tôm chết rất nhanh nên khó có thể điều trị kịp.

Cách phòng

  1. Cách phòng trị duy nhất là chọn giống tốt và khỏe mạnh (Tối thiểu post 10 nếu tôm thẻ và post 12 nếu tôm sú, gan tụy lấp đầy vỏ đầu ngực, quan sát kính hiển vi thấy nhiều giọt dầu. Tuyệt đối không chọn tôm phát sáng. Nên mua giống từ nhiều trại và các mẻ khác nhau để giảm rủi ro.). Hãy kiểm tra mật độ vi khuẩn nước ao nuôi tôm thẻ, trong đất và trên tôm giống để chắc rằng mật số của Vibrio luôn ở mức đảm bảo.
  2. Chuẩn bị ao nuôi đúng quy trình, trại nuôi có ao lắng đúng quy cách, áp dụng các biện pháp an toàn sinh học; có các biện pháp cắt mầm bệnh đối với các ao nuôi đã từng xuất hiện bệnh thông qua việc luân canh và đa canh, có thời gian phơi và cày đáy ao đủ lâu giữa các vụ nuôi.
  3. Cá rô phi giúp thiết lập một hệ sinh thái vi sinh trong nước ao với các quần thể tảo và vi khuẩn cân bằng. Trong một hệ sinh thái vi sinh cân bằng như vậy, vi khuẩn gây bệnh ít có cơ hội phát triển đến đủ mật độ có thể gây bệnh cho tôm. Sự hiện diện của cá rô phi còn giúp cho các biến động lớn về hệ vi sinh này ít xảy ra. Một khi hệ vi sinh trong ao có sự biến động lớn như hiện tượng sụp tảo trong ao thì khả năng vi khuẩn gây bệnh bùng phát để gây bệnh trên tôm là rất lớn.

Nếu cá rô phi thả trong ao nuôi chung với tôm ở một mật độ thấp vừa phải thì nó có tác dụng diệt tảo đáy, làm sạch đáy ao, ăn các con tôm bệnh chết giúp giảm sự lan truyền của bệnh v.v…

bệnh gan tuỵ tôm thẻ trắng

4. Thả mật độ vừa sức: Tôm thẻ thả dưới 150 con/m2ở miền Trung (ở đồng bằng sông Cửu Long nên thả 40-80 con/m2 tùy theo kinh nghiệm và số lượng quạt nước) và tôm sú thả dưới 30 con/m2. Đối với tôm thẻ, cần chủ động thu tỉa khi ao tôm đạt ngưỡng (1,3-1,5 kg/m2).

5.Kiểm soát chặt chẽ thức ăn

  • Kiểm tra trọng lượng tôm vào ngày nuôi thứ 20 để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
  • Lượng thức ăn tại ngày nuôi 30 không quá 12 kg/100.000 tôm và tổng lượng thức ăn trong 30 ngày đầu tối đa 250 kg/100.000 tôm. Không tăng quá 0,5 kg thức ăn/100.000 tôm/ngày trong suốt vụ nuôi.
  • Chủ động giảm thức ăn khi thời tiết thay đổi (oi bức, mây mù, mưa gió, bão) và môi trường ao biến động (xử lý hóa chất, rớt tảo, tôm nổi đầu, lột xác đồng loạt.

6. Giữ môi trường ổn định

bệnh gan tuỵ tôm thẻ trắng

  • Giữ pH sáng tối thiểu 7,8 ở đồng bằng sông Cửu Long và không thấp hơn 8,0 ở miền Trung (pH thấp có thể tôm lớn nhanh nhưng việc ép lột xác nhiều khiến tôm dễ nhiễm khuẩn). Độ kiềm lúc thả tôm cần đạt 100 ppm và tăng dần đến 150 ppm ở cuối vụ.
  • Duy trì hàm lượng ôxy trên 3 ppm tại vùng rìa khu vực chất thải và trên 4 ppm trong tầng nước. Lắp đặt đủ số lượng quạt nước theo công thức 1 mã lực (HP) cung cấp ôxy tối đa cho 400 kg tôm, nếu chạy điện thì 1 KW cung cấp ôxy cho 500 kg tôm.
  • Hạn chế hiện tượng nước ao phát sáng trong tháng nuôi đầu. Nếu xảy ra thì thay nước giảm độ mặn và sát trùng, sau 24 tiếng cấy vi sinh trở lại.
  • Khi phát hiện tảo đậm (độ trong dưới 30 cm hoặc/và dao động pH trong ngày trên 0,5 hoặc dao động chiều nay so hơn chiều hôm qua trên 0,2), người nuôi không nên sử dụng hóa chất cắt tảo mà cần cắt giảm thức ăn kết hợp với tăng lượng vi sinh cho đến khi màu tảo trở lại bình thường.
  • Loại bỏ tảo độc (nước ao màu xanh lam hoặc đỏ đậm) bằng cắt giảm mạnh thức ăn kết hợp với vi sinh.

7. Chủ động phòng bệnh với ( Boganic)

Các tin liên quan